Đăng ký thương hiệu

Từ điển bản quyền số 9

987 người đọc

Vấn đề bảo hộ bản quyền là một vấn đề pháp lý lớn, có giá trị thúc đẩy quá trình sáng tạo của xã hội. Tuy nhiên, những thuật ngữ về bản quyền cũng là những từ ngữ chuyên môn, vô cùng phức tạp và khó hiểu.

 

Để tạo điều kiện thuận lợi cho những nhà nghiên cứu, các luật sư, học sinh, sinh viên, Cục bản quyền tác giả có đưa ra các thuật ngữ về bản quyền và có những giải thích rất rõ ràng, khúc chiết. TUỆ NGUYỄN LEGAL, dẫn nguồn từ www.cov.gov.vn, trân trọng giới thiệu công trình này tới độc giả.

Ghi âm tác phẩm âm nhạc

Là việc định hình trực tiếp các âm thanh của cuộc biểu diễn tác phẩm âm nhạc có hoặc không có lời. Ghi âm tác phẩm âm nhạc là kết quả hữu hình của việc thể hiện tác phẩm âm nhạc. Điều đó cũng có nghĩa là việc sao chép các cuộc biểu diễn. Việc ghi âm tác phẩm âm nhạc nhằm mục đích để con người có thể cảm nhận lại tác phẩm âm nhạc đó, tái tạo lại, phát sóng hoặc truyền đạt. Xem thêm mục Bản ghi âm

Công ước Berne, Điều 13(1)

Ghi hình

Là việc định hình tất cả các loại hình ảnh biến đổi, có liên quan tới nhau trên các dạng vật chất bền vững như là băng, đĩa, định dạng kỹ thuật số, vv... . Việc ghi hình này cho phép con người có thể cảm nhận lại, tái tạo lại, phát sóng hoặc truyền đạt. Ghi hình tác phẩm nhằm mục đích để con người có thể cảm nhận lại hình ảnh tác phẩm còn được coi như là sao chép lại tác phẩm.

Xem thêm mục Phim đèn chiếu; Định hình nghe nhìn

Công ước Berne, Điều 9(3)

Luật mẫu Tunis, Điều 7(1)(c)

Ghi phụ đề tác phẩm điện ảnh

Là việc cung cấp tác phẩm điện ảnh kèm theo nội dung ký tự viết, để giải thích các sự kiện hoặc là lời đối thoại, hoặc bản dịch. Ghi phụ đề được sử dụng trong trường hợp phim câm hoặc phim có ngôn ngữ nguyên thuỷ là tiếng nước ngoài đang sử dụng trong phim. Thông thường, nó được xuất hiện ở phía dưới màn ảnh. Quyền cung cấp tác phẩm điện ảnh cùng với lời ghi phụ đề luôn hình thành một phần của quyền phóng tác điện ảnh.

Công ước Berne, Điều 14 bis (2)(b)

Giấy chứng nhận quyền tá giả, quyền liên quan

Là chứng chỉ hành chính của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tác giả, các đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan nộp đơn đăng ký có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Tác giả, các đồng tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan đã đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền tác giả, giấy chứng nhận quyền liên quan không có nghĩa vụ phải chứng minh quyền sở hữu đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã đăng ký khi có tranh chấp, trừ trường hợp có bằng chứng ngược lại. Cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền tác giả, giấy chứng nhận quyền liên quan đồng thời là cơ quan có thẩm quyền cấp lại, đổi, thu hồi, huỷ bỏ hiệu lực giấy chứng nhận đã cấp.

Luật Sở hữu Trí tuệ 2005, Điều 49, 50, 51

Giấy phép

Là sự cho phép của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan (thường được gọi là người cấp phép) đối với tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng các tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng (thường được gọi là người được cấp phép). Người được cấp phép chỉ được sử dụng theo giới hạn, cách thức, phù hợp với các điều kiện đã được thỏa thuận với bên cấp phép ghi tại một hợp đồng. Không giống như việc chuyển giao quyền, một giấy phép sử dụng không dịch chuyển quyền sở hữu; nó chỉ xác lập quyền hoặc các quyền về việc sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, quyền sở hữu vẫn thuộc về người cấp phép nhưng bị giới hạn trong phạm vi hợp đồng đã cấp. Giấy phép có thể là độc quyền hoặc không độc quyền, có thể chuyển giao hoặc không thể chuyển giao. Trong trường hợp không độc quyền, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể cấp các giấy phép tương tự một cách hợp pháp cho những tổ chức, cá nhân khác. Thông thường tổ chức, cá nhân được cấp phép cũng giành được quyền khai thác giấy phép của mình thông qua việc chuyển giao hoặc chuyển lại giấy phép sử dụng này cho tổ chức, cá nhân khác. Giấy phép này gọi là giấy phép thứ cấp hay phái sinh cấp cho bên thứ ba. Các công ước quyền tác giả và luật pháp quốc gia có thể quy định các giấy phép bắt buộc và các giấy phép luật định trong các trường hợp đặc biệt cụ thể.

Xem thêm mục Khai thác các quyền tác giả

Luật Sở hữu Trí tuệ 2009, Điều 19, Điều 20, Điều 29, Điều 30, Điều 31, Điều 47

Công ước Berne, Phụ lục, Điều II(1)

Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC), Điều V(2)

Luật mẫu Tunis, Điều A2(1)

Giấy phép bắt buộc

Được hiểu chung là một hình thức cho phép đặc biệt, do các cơ quan có thẩm quyền hoặc các tổ chức quản lý tập thể của tác giả thực hiện, theo những điều kiện cụ thể đối với việc sử dụng các tác phẩm cụ thể. Khác với loại giấy phép luật định cho phép sử dụng tác phẩm không cần bất kỳ đơn xin trước hoặc thông báo trước, giấy phép bắt buộc phải có đơn xin phép trước và phải được cấp giấy phép chính thức, hoặc chí ít là việc thông báo trước cho chủ sở hữu quyền tác giả. Giấy phép bắt buộc theo Công ước Berne, áp dụng đối với các bản ghi âm tác phẩm âm nhạc mà việc ghi âm này đã từng được tác giả cho phép, và áp dụng việc cấp phép bắt buộc cho các tác phẩm được phát sóng. Giấy phép bắt buộc theo Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC) áp dụng đối với bản dịch các tác phẩm viết sang ngôn ngữ thông dụng ở một số quốc gia sau 7 năm kể từ khi tác phẩm viết đó được công bố lần đầu tiên. Giấy phép bắt buộc được quy định theo hai công ước trên dành cho lợi ích của các nước đang phát triển, nhờ đó tự các nước này có thể tận dụng các điều kiện thuận lợi này để thông qua một tuyên bố phù hợp về việc áp dụng các quy định đó. Các nước có thể cho phép việc sử dụng các tác phẩm nước ngoài đã được xuất bản, bản dịch tác phẩm loại này sang ngôn ngữ thông dụng ở nước mình, phục vụ cho mục đích giảng dậy, học tập và nghiên cứu khoa học; hoặc dưới hình thức sao chép cho việc sử dụng gắn với các hoạt động hướng dẫn có hệ thống. Giấy phép bắt buộc phải cấp các quyền không độc quyền; quyền đó không chuyển giao được và bị giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đã cấp. Việc trả nhuận bút, thù lao thoả đáng cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả gần như là điều kiện để thực hiện tất cả các loại giấy phép bắt buộc; trong một số trường hợp điều này được quy định rõ ràng bằng văn bản.

Xem thêm mục Bù đắp hợp lý

Công ước Berne, Điều I, II, III, IV Phụ lục

Công ước quyền tác giả toàn cầu (UCC), Điều 7

Giấy phép luật định

Là sự cấp phép được thực hiện thông qua pháp luật đối với việc sử dụng tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả theo cách thức đặc biệt, với các điều kiện nhất định, đánh đổi lại là việc bên sử dụng giấy phép luật định phải thanh toán một khoản nhuận bút, thù lao cho tác giả. Giấy phép luật định còn được gọi là "giấy phép pháp lý". Công ước Berne cho phép luật pháp quốc gia đưa ra quy định về giấy phép luật định đối với phát sóng tác phẩm, theo cách thức mà từ đó không ảnh hưởng tới các quyền tinh thần của tác giả, và quy định về việc thanh toán một khoản tiền nhuận bút, thù lao thoả đáng. Khả năng đưa ra giấy phép luật định cũng thuộc phạm vi quy định trong Công ước Berne, đối với việc sao chép trong các trường hợp đặc biệt nhất định và ghi âm các tác phẩm âm nhạc, tuỳ thuộc vào các điều kiện cụ thể.

Xem thêm các mục Giấy phép bắt buộc, Giấy phép

Luật Sở hữu Trí tuệ 2009, Điều 26, 33

Công ước Berne, Điều 9(2), 11 bis (2), (3), 13(1)

Giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan

Là những hạn chế về quyền của tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan hay còn được hiểu như là các "ngoại lệ" của quyền tác giả, quyền liên quan. Giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan là quy định liên quan tới việc khai thác, sử dụng tác phẩm, cuộc biểu diễn, bảng ghi âm hình, chương trình sóng các trường hợp đặc biệt, cụ thể nhằm đáp ứng các nhu cầu chính đáng phục vụ công tác thông tin, nghiên cứu khoa học, giảng dậy và chính sách xã hội. Hình thức chủ yếu của những hạn chế này là các trường hợp sử dụng tự do đã công bố, trong đó có trường hợp phải thanh toán tiền sử dụng, có trường hợp không phải thanh toán tiền sử dụng.

Luật Sở hữu Trí tuệ và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành của Việt Nam đã đưa ra các giới hạn quyền tác giả, quyền liên quan. Đó là việc sử dụng quyền tác giả, quyền liên quan đối với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng đã công bố, không phải xin phép nhưng phải trả nhuận bút, thù lao và các quyền lợi vật chất khác cho tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, quyền liên quan, trừ các trường hợp sử dụng tự do quyền tác giả, quyền liên quan và phải ghi hoặc nhắc tên tác giả và nguồn gốc xuất xứ của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.

Luật Sở hữu Trí tuệ Việt Nam 2009, Điều 25, 26, 32, 33

 

 

 

WHY US - VÌ SAO NÊN CHỌN CHÚNG TÔI?

 

 

 

Các dịch vụ khác

Văn phòng Hà Nội

Địa chỉ: Tầng 10, Tòa nhà Ford Thăng Long, Số 105 Láng Hạ, Đống Đa, Hà Nội

Email: LuatTueNguyen@gmail.com

Tel: 04.3992.7805 - Hotline: 0983.372401

 

Văn phòng TP.HCM

Địa chỉ: Số 79 Trương Định, Bến Thành, quận 1, TP.HCM 

Email: LuatTueNguyen@gmail.com

Hotline: 0914.900680

 

Công ty Luật tư vấn và đại diện Quý khách hàng thực hiện các thủ tục pháp lý về Doanh nghiệp (Thành lập, sửa đổi, sáp nhập, giải thể v.v..), Sở hữu trí tuệ (Bảo hộ logo, bản quyền, sáng chế, xử lý vi phạm....), Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (Xin cấp, Điều chỉnh GCN Đầu tư, lập Công ty liên doanh...), Các loại giấy phép con (GP An toàn vệ sinh thực phẩm, ICP, Mạng XH trực tuyến, Sàn Giao dịch TM điện tử...)

Copyright © 2013. All rights reserved. / Thiết kế web HTSB